Danh mục: Vận chuyển hàng hóa

  • Xuất khẩu hàng hóa sang Ấn Độ, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

    Xuất khẩu hàng hóa sang Ấn Độ, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

    Không phải cứ ký được đơn hàng, giao hàng lên tàu thì tiền sẽ về tài khoản. Còn rất nhiều vấn đề doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hóa sang Ấn Độ cần phải lưu ý.

    Ấn Độ là đối tác xuất nhập khẩu đứng thứ 8 của Việt Nam

    Theo Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ, 4 tháng đầu năm 2023, thương mại song phương Việt Nam – Ấn Độ đạt 4,88 tỷ USD, giảm 11,27% so với 5,1 tỷ USD cùng kỳ năm trước, trong đó, Việt Nam xuất khẩu 2,69 tỷ USD, giảm 5,1%; nhập khẩu 2,19 tỷ USD, giảm 17,8% so với 4 tháng đầu năm 2022.

    Doanh nghiệp cần lưu ý gì khi xuất khẩu hàng hóa sang Ấn Độ

    Các mặt hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng dương trong tháng 4 so với tháng 3 gồm: xơ sợi dệt các loại (tăng 72,6%); hàng dệt, may (tăng 27,6%); giày dép các loại (tăng 119,8%); điện thoại và linh kiện (tăng 16%); máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 55,2%).

    Các mặt hàng nhập khẩu có tốc độ tăng trưởng dương trong tháng 4 so với tháng 3 gồm: dầu mỡ thực vật (tăng 124,5%), quặng và khoáng sản (tăng 42,1%); sản phẩm khác từ dầu mỏ (45,5%); phân bón (118,4%); xơ sợi; các mặt hàng từ sắt thép.

    Ấn Độ vừa là đối tác xuất nhập khẩu đứng thứ 8 của Việt Nam, thị trường tiềm năng còn nhiều dư địa để khai thác, vừa là đối thủ cạnh tranh của Việt Nam đối với một số mặt hàng trên thị trường xuất khẩu toàn cầu (dệt may, thủy sản, giày da, nông sản…). Vì vậy, chính sách ngoại thương của Ấn Độ không chỉ tác động tới xuất nhập khẩu của Ấn Độ mà còn ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu của Việt Nam.

    Làm ăn với đối tác Ấn Độ – “Muốn nhanh cũng phải từ từ”

    Một số lưu ý trong đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng với đối tác Ấn Độ, ông Bùi Trung Thướng – Tham tán Thương mại – Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ – thông tin, làm ăn với các đối tác Ấn Độ “muốn nhanh cũng phải từ từ”. Các doanh nghiệp cần làm cẩn trọng từng bước một, không nên làm tắt.

    Việc thẩm tra, xác minh doanh nghiệp có chính xác hay không là hết sức quan trọng. Bởi hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đang trao đổi qua các đối tác, trung gian mua hàng Ấn Độ, khi mọi thứ thuận lợi thì sẽ rất dễ dàng, nhưng khi có vấn đề gì thì việc tìm kiếm họ là rất khó khăn. Bởi đa phần họ thành lập hộ kinh doanh cá thể và lấy địa chỉ ở một nơi nào đấy, khi chúng ta liên hệ lại địa chỉ này thì không có doanh nghiệp nào ở đấy cả.

    Khi nhận được đơn hàng, doanh nghiệp phải gửi email xác nhận xem có đúng là đơn hàng thuộc thẩm quyền của công ty không và yêu cầu ký xác nhận. Tránh trường hợp người đặt hàng sau một thời gian họ nghỉ, người khác tiếp quản cho rằng họ không đặt đơn hàng này.

    Hiện, Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ đang hỗ trợ giải quyết một số vụ tranh chấp thương mại, doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ, khi hàng hóa đã cập cảng Ấn Độ nhà nhập khẩu không thanh toán, không nhận hàng hoặc yêu cầu giảm giá với số tiền lớn. Doanh nghiệp Việt Nam cần thẩm định kỹ đối tác hoặc thông tin cho Thương vụ trước khi ký kết các hợp đồng thương mại.

    “Trong thời gian vừa qua, khi nhận được các tranh chấp từ doanh nghiệp gửi tới, chúng tôi thấy rằng, các doanh nghiệp đã bỏ qua những khâu rất cơ bản trong hoạt động ngoại thương. Khi chúng tôi hỏi doanh nghiệp có ký hợp đồng không? Câu trả lời chúng tôi nhận được là không ký mà trao đổi qua Viber. Các điều kiện trao đổi cũng không thể hiện qua email. Việc này làm thiếu cơ sở và bằng chứng để hỗ trợ cho doanh nghiệp khi giải quyết các tranh chấp xảy ra”, ông Bùi Trung Thướng thông tin.

    Hầu hết các tranh chấp xảy ra đều liên quan đến vấn đề về chất lượng, thâm hụt hàng hóa. Doanh nghiệp cũng cần kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng và thông báo bằng hình ảnh cho đối tác.

    Bên cạnh đó, cần thường xuyên giữ liên lạc với đối tác, khách hàng. “Hàng ngày đều phải trao đổi, cần cập nhật thông tin với đối tác. Nếu 3 – 4 ngày mà không thấy họ trả lời lại thì sẽ có vấn đề”, ông Bùi Trung Thướng thông tin.

    Vấn đề kiểm tra trước khi giao hàng, theo ông Bùi Trung Thướng, đây tưởng chừng là vấn đề đơn giản nhưng hầu hết các tranh chấp xảy ra đều do vấn đề chất lượng hàng hóa. Nhất là khi hàng hóa đã cập cảng, đôi khi hàng hóa không có vấn đề gì thì đối tác vẫn kêu để “ép” đối tác xuất khẩu giảm giá, chiết khấu hàng hóa nếu không họ sẽ không nhận hàng.

    Điều này đồng nghĩa tất cả các rủi ro đều bị đẩy về phía doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam không có cách nào khác là phải chấp nhập yêu cầu từ phía đối tác dẫn đến thiệt hại sẽ rất lớn.

    “Trước khi giao hàng thì doanh nghiệp cần kiểm tra hàng hóa; chấp nhận thuê cơ quan, đơn vị thứ 3 kiểm định độc lập; mua bảo hiểm hàng hóa. Việc này giúp giảm thiểu tổn thất khi rủi ro xảy ra”, ông Bùi Trung Thướng khuyến nghị.

    Giao hàng lên tàu không có nghĩa yên tâm tiền sẽ về tài khoản

    Một vấn đề nữa được ông Bùi Trung Thướng nhắc đến đó là thông lệ quốc tế. Những điều khoản chuyển đổi rủi ro, doanh nghiệp cần nắm thật kỹ, tránh trường hợp nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam cho rằng, xuất khẩu giá FOB, giao hàng tại nhà kho cho yên tâm. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn không yên tâm khi chúng ta chưa nhận được tiền. Việc doanh nghiệp đưa điều kiện thanh toán mà họ nhận hàng xong mới trả tiền thì rủi ro sẽ thuộc doanh nghiệp xuất khẩu.

    Theo ông Bùi Trung Thướng, các thương nhân Ấn Độ, các nhà đầu tư, nhiều người kinh doanh nhiều kinh nghiệm họ sẽ tìm ra các điểm hạn chế. Đôi khi họ không thực hiện hoạt động lừa đảo nhưng họ thấy việc lợi thế nghiêng về họ thì họ cứ chiếm dụng vốn và khi có hành động can thiệp từ các cơ quan chức năng thì họ hoàn trả.

    “Việc chúng ta bán ở mức giá như thế nào thì điều kiện chuyển tiền cũng cần được thể hiện rất rõ trong các điều khoản thanh toán tại hợp đồng FOB, CIF,…”, ông Bùi Trung Thướng khuyến nghị.

    Giao hàng lên tàu không có nghĩa là doanh nghiệp yên tâm tiền sẽ về tài khoản. Còn rất nhiều vấn đề khác chúng ta không lường trước được. Cần liên tục cập nhật thông tin hàng hóa đang trong quá trình nào. Từng khâu một cần gửi thông tin cho đối tác, yêu cầu xác nhận, đúng điều khoản thanh toán và không nên nhân nhượng. “Có trường hợp đối tác làm ăn 10 năm rồi vẫn lừa nhau. Rất khó để nói đơn hàng có suôn sẻ hay không”, ông Bùi Trung Thướng cho biết.

    Hóa đơn chứng từ rõ ràng, tài khoản ngân hàng phải được đề cập trên đấy để biết hàng bán cho ai. Cần thể hiện rõ đơn vị nào là đơn vị nhận hàng, đơn vị nào chịu trách nhiệm thanh toán.

    Bộ hồ sơ thanh toán phải ghi rõ trên hợp đồng. Bất cứ thay đổi nào so với thoả thuận trước đây cũng cần thể hiện bằng văn bản. Phải ký lại phụ lục hợp đồng và chuyển qua email chứ không sử dụng mạng xã hội – đây không phải là chứng cứ khi có các phát sinh tranh chấp.

    Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa cần tham khảo thông tin chính sách trên trang web của Tổng cục Ngoại thương Ấn Độ. Họ công khai thông tin trên trang web, nhưng điều cần lưu ý đó là họ hay ban hành các văn bản một cách bất ngờ và có hiệu lực ngay lập tức. Đây cũng là rủi ro trong kinh doanh với đối tác Ấn Độ.

    “Ấn Độ từ năm 2020 đã có thay đổi rất lớn liên quan đến chứng nhận xuất xứ. Mới đây chúng tôi nhận được thông tin, các lô hàng xuất khẩu từ năm 2020, 2021, họ yêu cầu xác nhận giấy chứng nhận xuất xứ cấp thời điểm đó. Do đó, tất cả các tài liệu, doanh nghiệp cần phải lưu trữ lại”, ông Bùi Trung Thướng khuyến nghị.

    Nguồn: Nguyễn Hạnh

  • TP.HCM sẽ có 8 trung tâm logistics

    TP.HCM sẽ có 8 trung tâm logistics

    TP.HCM đặt mục tiêu phát triển logistics trở thành một ngành dịch vụ mũi nhọn, với mức tăng trưởng doanh thu đạt 15% vào năm 2025 và đạt 20% vào năm 2030…

    Cảng Cái Mép – Thị Vải.

    TP.HCM sẽ xây dựng 8 trung tâm logistics với tổng diện tích hơn 750 ha, bao gồm: Cát Lái – Phú Hữu – TP. Thủ Đức (diện tích 292 ha); Long Bình – TP. Thủ Đức (diện tích 54 ha); Linh Trung – TP. Thủ Đức (diện tích 74 ha); Củ Chi – huyện Củ Chi (diện tích 15 ha); Tân Kiên – huyện Bình Chánh (diện tích 60 ha); Hiệp Phước – huyện Nhà Bè (diện tích 100 ha); xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn (diện tích 150 ha). Ngoài ra, các dự án có chức năng “tương tự trung tâm logistics” như kho lạnh ở Khu công nghiệp Vĩnh Lộc, kho thương mại điện tử ở Củ Chi…cũng đang được các doanh nghiệp triển khai xây dựng.

    Đây là thông tin được ông Nguyễn Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC), chia sẻ tại hội thảo “Nâng cao năng lực hệ thống logistics và cảng biển TP.HCM thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và liên kết vùng”, tổ chức ngày 04/7/2023, tại TP.HCM.

    TP.HCM đã phê duyệt đề án “Phát triển ngành logistics TP.HCM đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” – Ảnh: IT.

    Hiện tại, thành phố đã phê duyệt đề án “Phát triển ngành logistics TP.HCM đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, phấn đấu tốc độ tăng trưởng doanh thu dịch vụ logistics của doanh nghiệp đạt 15% vào năm 2025 và đạt 20% vào năm 2030, tỷ trọng đóng góp của logistics vào GRDP thành phố đến năm 2025 đạt 10% và đến năm 2030 đạt 12%, góp phần kéo giảm chi phí logistics cả nước so với GDP quốc gia đến năm 2025 còn khoảng 10-15%.

    Trong vấn đề phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, TP.HCM đóng vai trò động lực quan trọng. Do đó, theo các chuyên gia, việc phát triển đồng bộ hệ thống logistics cấp quốc gia cần tập trung xây dựng trung tâm logistics hàng không gắn với cảng hàng không quốc tế Long Thành, đầu tư phát triển hệ thống logistics cảng và cảng trung chuyển quốc tế tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và TP.HCM. Hình thành vành đai công nghiệp, đô thị, dịch vụ, logistics dọc hành lang Vành đai 3, Vành đai 4 và các tuyến cao tốc của vùng. Phát triển chuỗi công nghiệp – đô thị Mộc Bài – TP.HCM – Cảng Cái Mép – Thị Vải gắn với hành lang kinh tế Xuyên Á.

    Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Tài, Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại

    “Quy hoạch hệ thống logistics TP.HCM và cả vùng kinh tế phía Nam cần theo hướng hiện đại. Do đó, ngoài việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng cứng như cầu đường, cảng biển… TP.HCM cần xây dựng hệ thống quản lý thông tin hàng hóa trực tuyến; áp dụng các công nghệ IoT, Blockchain; tích hợp hệ thống thông tin và giao tiếp ứng dụng cũng như chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực logistics”.

    Cho rằng TP.HCM nên xây dựng cảng biển trung chuyển tại Cần Giờ theo hướng kết nối vùng để trung chuyển hàng hóa từ cảng Cái Mép – Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) về TP.HCM, ông Trương Nguyên Linh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Liên doanh phát triển Tiếp vận số 1 (VICT), cũng đề cập đến việc TP.HCM cần đẩy mạnh mở rộng các tuyến đường kết nối vào các cảng biển; khẩn trương xây dựng 8 trung tâm logistics và xây dựng các bến thủy nội địa.

    “Quy hoạch bến thủy nội địa trong phạm vi TP.HCM để phát triển vận tải logistics, vì vấn đề kết nối của doanh nghiệp không chỉ giữa các cảng biển, các cảng trung chuyển mà còn chuyển hàng vào bến thủy nội địa. Doanh nghiệp cần TP.HCM quy hoạch cụ thể, rõ ràng để có kế hoạch cho kinh doanh, kết nối nhanh chóng và nâng cao năng lực”, ông Linh đề xuất.

    Nguồn: VnEconomy

  • Gần 70% kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đến từ doanh nghiệp ngoại

    Gần 70% kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đến từ doanh nghiệp ngoại

    (HQ Online) – Hiện nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm ưu thế lớn trong các ngành hàng xuất nhập khẩu chủ lực như điện thoại, máy vi tính, máy móc thiết bị, giày dép, dệt may…

    Doanh nghiệp FDI đang chiếm ưu thế lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Ảnh: T.Bình.

    Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan vừa công bố, xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 6 (1-15/6) đạt 9,93 tỷ USD, giảm 14,6% tương ứng giảm 1,69 tỷ USD so với kỳ 2 tháng 5/2023.

    Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/6, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp này đạt 108,83 tỷ USD, giảm 11,9%, tương ứng giảm 14,64 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 73,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

    Các doanh nghiệp FDI góp mặt ở hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Đáng chú ý, đến nay có 3 nhóm hàng của các doanh nghiệp này đạt hơn 10 tỷ USD gồm: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (20,1 tỷ USD); điện thoại và linh kiện (20 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng (15,2 tỷ USD).

    Chiều ngược lại, nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 6 đạt 8,85 tỷ USD, tăng 8,2% (tương ứng tăng 672 triệu USD) so với kỳ 2 tháng 5/2023.

    Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/6, tổng kim ngạch nhập khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 90,49 tỷ USD, giảm 18,1% (tương ứng giảm 20 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022, chiếm 65,1% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

    Như vậy, từ đầu năm đến 15/6, xuất nhập khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 199,32 tỷ USD, giảm 14,8% (tương ứng giảm 34,65 tỷ USD) và chiếm 69,22% tổng kim ngạch cả nước.

    Nguồn: Hải Quan Online

  • Nhu cầu vận chuyển xuyên quốc gia tại Đông Nam Á tăng mạnh

    Nhu cầu vận chuyển xuyên quốc gia tại Đông Nam Á tăng mạnh

    Vận tải đường bộ xuyên biên giới tại ASEAN được dự báo tăng mạnh nhờ sự phục hồi kinh tế và bùng nổ thương mại điện tử.

    Theo báo cáo của Google, Temasek và Bain & Company năm 20022, các nền kinh tế kỹ thuật số hàng đầu Đông Nam Á chiếm 200 tỷ USD tổng giá trị giao dịch được thực hiện, tăng 20% so với năm 2021. Nền kinh tế trực tuyến Đông Nam Á cũng đang trên đà đạt 1.000 tỷ USD vào năm 2030.

    Thương mại điện tử nói chung và mảng xuyên biên giới thời gian qua cho thấy sự phát triển mạnh mẽ tại cả Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Trong đó, giao dịch trực tuyến xuyên quốc gia dần cho thấy vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh, xuất khẩu, giúp gia tăng doanh thu và độ phổ biến của thương hiệu trên thị trường.

    Thêm vào đó, lĩnh vực này hiện nay cũng được chính phủ chú trọng, hỗ trợ, nới lỏng các hạn chế thương mại, thực hiện các sáng kiến mới. Đơn cử có hệ thống hải quan điện tử quá cảnh ASEAN, cấp phép cho các nhà khai thác di chuyển hàng hóa qua biên giới bằng một chứng từ duy nhất.

    Họ không cần nộp các loại thuế khác khi hàng nhập cảnh hoặc xuất cảnh. Cùng với đó là Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực và hợp tác thương mại, hứa hẹn là đòn bẩy thúc đẩy, hỗ trợ thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển nhanh chóng.

    Dù là lĩnh vực tiềm năng, nhiều dư địa phát triển song thương mại điện tử xuyên quốc gia vẫn tồn tại nhiều thách thức. Để đạt sự phát triển bền vững, ngoài sản phẩm tốt, các doanh nghiệp cần trang bị kiến thức sâu rộng về tình hình thị trường thế giới. Đồng thời, họ cũng nên kết nối với các đơn vị cung cấp dịch vụ vận chuyển xuyên biên giới uy tín để có chiến lược phát triển kinh doanh dài hạn, hiệu quả, phù hợp.

    Vận chuyển hàng hóa quốc tế và quy trình hậu cần (logistics) là một trong những yếu tố quan trọng trong xuất khẩu hàng hóa trực tuyến. Trong đó, logistics lại đóng vai trò quyết định trong việc hình thành trải nghiệm và sự hài lòng của khách hàng về doanh nghiệp.

    Song song đó, việc cân đối chi phí, uy tín đối tác, đảm bảo an toàn suốt quá trình vận chuyển cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Những đơn vị logistics cung cấp nhiều phương thức vận chuyển như đường bộ, biển, hàng không sẽ có năng lực xử lý bưu kiện lẫn các vấn đề pháp lý trong xuất nhập khẩu hiệu quả, nhanh chóng hơn.

    Tìm được đối tác vận chuyển phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu nguồn lực đầu tư, giảm chi phí vận chuyển, hoàn thiện đơn hàng, rút ngắn thời gian vận chuyển… Đồng thời, các vấn đề rủi ro khi vận chuyển cũng như vi phạm không mong muốn ở các thị trường mục tiêu cũng được giảm thiểu.

    Nắm bắt nhu cầu vận chuyển xuyên biên giới của các doanh nghiệp Đông Nam Á, nhiều “ông lớn” logistics đã đầu tư thiết lập mạng lưới dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đối tác. Đến nay, các quốc gia ASEAN đã hình thành mạng lưới đường bộ chuyên cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế đầu tiên trên thị trường.

    Các doanh nghiệp vận chuyển có thể đưa hàng hóa qua lại nhanh chóng hơn giữa các nước Singapore, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Myanmar và Trung Quốc. Dịch vụ vận tải đường bộ không chỉ nhanh hơn mà còn cắt giảm chi phí so với đường biển và hàng không.

    Các tập đoàn logistics nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh như DHL Global Forwarding, BEST Inc… đã đầu tư hệ thống kho ngoại quan, xây dựng mạng lưới dịch vụ tại Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Các khoản đầu tư này góp phần hoàn thiện mạng lưới vận chuyển xuyên biên giới, phục vụ khách hàng trong khu vực.

    Không chỉ đầu tư hoàn thiện tuyến vận chuyển xuyên biên giới, các doanh nghiệp còn xây dựng hệ thống kho ngoại quan lưu hàng, bố trí đội ngũ nhân sự bản xứ để hỗ trợ thực hiện thủ tục thông quan tại các cửa khẩu. Sự đầu tư bài bản của họ cũng hứa hẹn mang đến loạt danh mục dịch vụ toàn diện, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong khu vực dễ dàng kết nối, phát triển kinh doanh.

    Nguồn: Sưu tầm

  • Kỳ 1 tháng 5-2023: Tổng trị giá xuất nhập khẩu Việt Nam đạt 23,89 tỷ USD

    Kỳ 1 tháng 5-2023: Tổng trị giá xuất nhập khẩu Việt Nam đạt 23,89 tỷ USD

    Số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 5-2023 (từ ngày 1-5 đến ngày 15-5) đạt 23,89 tỷ USD, giảm 10,8% (tương ứng giảm 2,89 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 4-2023.

    Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 5-2023 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15-5 đạt 230,59 tỷ USD, giảm 15,4%, tương ứng giảm 42,1 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2022.

    Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 160,26 tỷ USD, giảm 15,1% (tương ứng giảm 28,5 tỷ USD). Trong kỳ 1 tháng 5-2023, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 988 triệu USD. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15-5, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 6,57 tỷ USD.

    Kỳ 1 tháng 5-2023: Tổng trị giá xuất nhập khẩu Việt Nam đạt 23,89 tỷ USD. Ảnh minh họa: TTXVN

    Về xuất khẩu, tổng trị giá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 5 đạt 11,45 tỷ USD, giảm 21,3% (tương ứng giảm 3,1 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 2 tháng 4-2023. Như vậy, tính đến hết 15-5, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 118,58 tỷ USD, giảm 12,8% tương ứng giảm 17,47 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2022.

    Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ 1 tháng 5 đạt 8,09 tỷ USD, giảm 22,6% tương ứng giảm 2,36 tỷ USD so với kỳ 2 tháng 4-2023. Tính đến hết ngày 15-5, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp này đạt 87,17 tỷ USD, giảm 12,4%, tương ứng giảm 12,39 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 73,5% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.

    Về nhập khẩu, tổng trị giá hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 5 đạt 12,44 tỷ USD, tăng 1,7% (tương ứng tăng 212 triệu USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 4-2023. Như vậy, tính đến hết ngày 15-5, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 112,01 tỷ USD, giảm 18% (tương ứng giảm 24,63 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022.

    Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ này đạt 8,18 tỷ USD, tăng 4% (tương ứng tăng 317 triệu USD) so với kỳ 2 tháng 4-2023. Tính đến hết ngày 15-5, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp này đạt 73,09 tỷ USD, giảm 18,1% (tương ứng giảm 16,14 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022, chiếm 65,3% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.

    Nguồn: HOÀNG LAN

  • 4 nhóm hàng xuất khẩu ”chục tỷ đô”

    4 nhóm hàng xuất khẩu ”chục tỷ đô”

    (HQ Online) – Đến 15/6, cả nước có 4 nhóm hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 10 tỷ USD trở lên, giảm 1 nhóm so với cùng kỳ năm ngoái, theo số liệu thống kê sơ bộ Tổng cục Hải quan vừa công bố.

    Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu những tháng đầu năm đều có mức giảm sâu nhất trong lịch sử. 

    Nhóm hàng tạm rời khỏi vị trí “chục tỷ đô” là giày dép với kim ngạch 8,92 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm ngoái đạt 10,54 tỷ USD.

    4 nhóm hàng chủ lực vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu hơn 10 tỷ USD gồm: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (22,94 tỷ USD); điện thoại và linh kiện (21,93 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (17,98 tỷ USD); dêt may (14,12 tỷ USD).

    Đáng chú ý, cả 4 nhóm hàng trên đều có kim ngạch giảm sâu so với cùng kỳ 2022, trong đó, điện thoại giảm mạnh nhất tới 5,11 tỷ USD nên đã bị mất ngôi vị số 1 xuất khẩu vào nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện.

    Thị trường xuất khẩu của các nhóm hàng chủ lực và của hàng hóa Việt Nam nói chung là Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Hàn Quốc, Nhật Bản, ASEAN…

    Tính từ đầu năm đến hết 15/6, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 148,87 tỷ USD, giảm 12% tương ứng giảm 20,34 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2022.

    Trong các nhóm hàng giảm mạnh về kim ngạch, ngoài điện thoại và linh kiện, còn có thể kể đến dệt may giảm 2,56 tỷ USD, tương ứng giảm 15,3%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 2,23 tỷ USD, tương ứng giảm 29%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 1,74 tỷ USD, tương ứng giảm 7%…

    Nguồn: Hải Quan Online

  • Nửa đầu năm 2023, xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 24,56 tỷ USD

    Nửa đầu năm 2023, xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 24,56 tỷ USD

    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản nửa đầu năm 2023 đạt 24,59 tỷ USD, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm 2022.

    Trong đó, nhóm nông sản chính xuất khẩu đạt 12,79 tỷ USD, tăng 12%; sản phẩm chăn nuôi đạt 232 triệu USD, tăng 26,5%; thuỷ sản đạt 4,13 tỷ USD, giảm 27,4%; lâm sản chính đạt 6,5 tỷ USD, giảm 28,2%; đầu vào sản xuất đạt 940 triệu USD, giảm 28,9%; muối đạt 2,4 triệu USD, giảm 14,2%.

    Gạo là một trong số 2 mặt hàng xuất khẩu tăng cả lượng và giá trị nửa đầu năm 2023

    Đóng góp vào kết quả đó có 7 sản phẩm, nhóm sản phẩm có giá trị xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD gồm: Cà phê, cao su, gạo, rau quả, hạt điều, tôm, sản phẩm gỗ.

    Cụ thể, 6 tháng năm 2023, xuất khẩu cà phê đạt 2,4 tỷ USD; cao su đạt 1,05 tỷ USD; gạo đạt 2,3 tỷ USD; rau quả đạt 2,75 tỷ USD; hạt điều đạt 1,6 tỷ USD; tôm đạt 1,56 tỷ USD; sản phẩm gỗ đạt 4,07 tỷ USD.

    Trong đó, gạo và hạt điều là 2 sản phẩm tăng cả khối lượng và giá trị. Cụ thể, xuất khẩu gạo tăng 22,2% khối lượng và tăng 34,7% giá trị xuất khẩu; xuất khẩu hạt điều tăng 10,5% khối lượng và tăng 7,7% giá trị xuất khẩu; riêng cà phê tuy giảm về khối lượng (đạt 1,02 triệu tấn, giảm 2,2%), nhưng nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng 5,2% nên giá trị xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD, tăng 3%.

    Về thị trường xuất khẩu, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Trong đó, giá trị xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chiếm 21,4%, tăng 7,7%; xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm 20,2%, giảm 32,9% và xuất khẩu sang Nhật Bản chiếm 7,7%, giảm 5,3%.

    Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương thực hiện các cơ chế, chính sách đối với công tác xúc tiến thương mại, đàm phán mở cửa, phát triển thị trường để giải quyết kịp thời các vướng mắc thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản; chủ động dự báo, tranh thủ cơ hội từ FTAs để thúc đẩy xuất khẩu.

    Đồng thời, nắm bắt tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản, thúc đẩy lưu thông, thương mại biên giới, triển khai thực hiện các biện pháp cấp bách giảm ùn ứ và thúc đẩy xuất khẩu nông sản tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc, nhất là đối với các nông sản vào vụ thu hoạch.

    Bên cạnh đó, phối hợp với Đại sứ quán, Tham tán Thương mại, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam tại các nước xây dựng các kênh trao đổi, cung cấp thông tin các thị trường xuất khẩu, tăng cường xúc tiến, quảng bá đối với các sản phẩm đã được mở cửa, xuất khẩu chính ngạch vào các thị trường gắn liền với các hoạt động ngoại giao của Chính phủ và của Bộ vào các thị trường lớn (Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Nga, Brazil) và khai thác hiệu quả các thị trường tiềm năng (Nhật Bản – Hàn Quốc, Asean, Australia – New Zealand, Trung Đông, châu phi…).

    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ đàm phán để xuất khẩu dừa tươi sang Hoa Kỳ; thống nhất với Nhật Bản về tem mới đối với mặt hàng xoài và thanh long quả tươi của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản từ 1/8/2023; trao đổi với Tổng Cục Hải quan Trung Quốc để hoàn thiện dự thảo Nghị định thư về yêu cầu nhập khẩu ớt và các loại quả tươi truyền thống của Việt Nam (trừ chuối); tổ chức họp trực tuyến với Tổng cục Hải quan Trung Quốc về Lệnh 248 và 249 và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xuất khẩu; tổ chức tiếp đón và làm việc với đoàn thanh tra của EU đánh giá hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm thủy sản và các doanh nghiệp chế biến thủy sản của Việt Nam…

    Nguồn: Nguyễn Hạnh

  • Hàng hóa XNK qua cảng TPHCM lần đầu tiên giảm mạnh hơn 14 tỷ USD

    Hàng hóa XNK qua cảng TPHCM lần đầu tiên giảm mạnh hơn 14 tỷ USD

    Lần đầu tiên trong nhiều năm hàng hóa XNK qua các cảng TPHCM giảm mạnh, chỉ trong nửa đầu năm, kim ngạch XNK đã giảm hơn 14 tỷ USD.

    Công chức Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 1 làm thủ tục xuất khẩu chuối cho DN . Ảnh: T.H

    Nhiều mặt hàng giảm sâu

    Theo tìm hiểu của phóng viên, hàng hóa XNK qua các cửa khẩu cảng biển, cảng hàng không quốc tế TPHCM đều giảm rất mạnh. Tại cảng Cát Lái nơi có lưu lượng hàng hóa XNK thông qua lớn nhất tại TPHCM kim ngạch hàng nhập khẩu cũng giảm khoảng trên 30%, tác động rất lớn đến nguồn thu ngân sách Nhà nước của Cục Hải quan TPHCM.

    Theo phân tích của Cục Hải quan TPHCM, tổng kim ngạch XNK hàng lũy kế từ đầu năm 2023 đến ngày 15/6/2023 đạt 51,83 tỷ USD, giảm 21,43% (tương đương giảm tuyệt đối 14,13 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, hàng xuất khẩu giảm khá sâu, dẫn cán cân thương mại hàng hóa XNK làm thủ tục qua Cục Hải quan TPHCM trong nửa đầu năm 2023 là nhập siêu 3,71 tỷ USD.

    Cụ thể, trị giá hàng hóa nhập khẩu đạt 27,77 tỷ USD, giảm 23,61% so với cùng kỳ năm 2022 (năm 2022 đạt 36,35 tỷ USD). Trong đó, có nhiều mặt hàng giảm sâu, như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt trên 5,8 tỷ USD, giảm trên 35%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng trên 2,6 tỷ USD, giảm 17%; Diesel trên 1 tỷ USD, giảm trên 21%; vải các loại đạt trên 1 tỷ USD, giảm hơn 14%; sắt thép các loại nhập khẩu sản lượng 825.145 tấn, kim ngạch có thuế 556,6 triệu USD, giảm 7,5% về lượng, giảm 30% về trị giá.

    Trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 24,06 tỷ USD, giảm 18,74% so với cùng kỳ năm 2022 (năm 2022 đạt 29,61 tỷ USD). Nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm sâu, như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt trên 5,8 tỷ USD, giảm trên 28%; hàng dệt may đạt trên 2,3 tỷ USD, giảm hơn 8%; hàng thủy sản đạt trên 1,4 tỷ USD, giảm gần 40%. Riêng mặt hàng gạo xuất khẩu đạt trên 1,7 tỷ USD, tăng gần 40%…

    Chú trọng tạo thuận lợi thương mại

    Chia sẻ với khó khăn của doanh nghiệp, Cục Hải quan TPHCM luôn chú trọng công tác cải cách thủ tục hải quan, tạo thuận lợi thương mại. Trong 6 tháng đầu năm 2023, việc triển khai đồng bộ, quyết liệt công tác cải cách thủ tục hành chính của Cục Hải quan TPHCM đã và đang góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan và thúc đẩy dòng chảy thương mại trên địa bàn quản lý trong bối cảnh nền kinh tế còn diễn biến phức tạp và có nhiều dấu hiệu suy thoái.

    Đồng thời, Cục Hải quan TPHCM đã tích cực phối hợp với các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan và các sở, ban, ngành trên địa bàn rà soát, kiến nghị sửa đổi hệ thống cơ sở pháp luật hải quan và pháp luật có liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về hải quan, quy trình nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

    Bên cạnh việc tạo thuận lợi, Cục Hải quan TPHCM cũng kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đảm bảo vừa hỗ trợ thông quan hàng hóa nhanh chóng, vừa quản lý chặt chẽ.

    Trong đó, Cục Hải quan TPHCM đề nghị sớm ban hành nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử; nghị định quy định thực hiện kết nối và chia sẻ thông tin trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa, người và phương tiện vận tải theo Cơ chế một cửa quốc gia; nghị định quy định cơ chế quản lý, phương thức, trình tự, thủ tục kiểm tra chất lượng và kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu; Luật Hải quan và các Nghị định hướng dẫn thực hiện thay thế Nghị định 38/2015/NĐ-CP; Nghị định 49/2020/NĐ-CP để chuẩn bị hành lang pháp lý khi triển khai hải quan số trong thời gian tới.

    Bên cạnh đó, Cục Hải quan TPHCM kiến nghị các bộ, sở, ban, ngành cùng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực quản lý nhà nước nhằm đồng bộ, nâng cao việc liên thông kết nối, trao đổi dữ liệu với nhau, phát huy hiệu quả tối đa của Cơ chế một cửa Quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, vừa tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nói chung, lĩnh vực hải quan nói riêng, vừa tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua những thách thức của thị trường thế giới và khu vực trong năm 2023.

    Nguồn: HQ Online

  • Xuất nhập khẩu hàng hóa giảm 40 tỷ USD, thê thảm hơn cả khi ‘đóng băng’ vì COVID-19

    Xuất nhập khẩu hàng hóa giảm 40 tỷ USD, thê thảm hơn cả khi ‘đóng băng’ vì COVID-19

    TPO – Theo Tổng cục Hải quan, tình hình lạm phát tại một số thị trường lớn đang khiến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam suy giảm mạnh. Từ đầu năm đến ngày 15/5, kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước chỉ đạt 230 tỷ USD, giảm gần 40 tỷ USD. Con số còn thấp hơn cả thời điểm dịch COVID-19 bùng phát mạnh năm 2021.

    Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, nửa đầu tháng 5, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước đạt 11,4 tỷ USD, giảm hơn 21% so với nửa cuối tháng 4. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/5, xuất khẩu hàng hóa của cả nước đạt 118,6 tỷ USD, giảm 12,8% so với cùng kỳ năm trước.

    Ở chiều ngược lại, nhập khẩu hàng hóa trong nửa đầu tháng 5 đạt 12,4 tỷ USD, tăng nhẹ so với kỳ trước. Tuy nhiên, nếu tính chung từ đầu năm đến ngày 15/5, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 112 tỷ USD, giảm 18% so với cùng kỳ năm ngoái.

    Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều giảm sâu so với năm ngoái

    Như vậy, đến nay tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước chỉ đạt hơn 230 tỷ USD, giảm 15,3% so với cùng kỳ năm trước, tương đương giảm gần 40 tỷ USD. Con số còn thấp hơn cả thời điểm dịch COVID-19 bùng phát mạnh năm 2021, khi đó tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 234 tỷ USD.

    Đáng chú ý, các nhóm hàng xuất nhập khẩu chủ lực như: điện thoại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; dệt may; giày dép… đều giảm sâu so với cùng kỳ năm ngoái.

    Với quy mô hiện nay, những tháng đầu năm kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt bình quân 51,2 tỷ USD mỗi tháng, trong khi con số này của cùng kỳ năm ngoái đạt hơn 60 tỷ USD.

    “Để đạt được quy mô tương đương năm ngoái (hơn 730 tỷ USD), trong thời gian còn lại của năm nay, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam phải đạt khoảng 500 tỷ USD, tương đương bình quân gần 67 tỷ USD mỗi tháng. Đây là mục tiêu đầy thách thức đặt ra đối với cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp”, Tổng cục Hải quan nhận định.

    Nguồn: Sưu tầm

  • Đến nửa đầu tháng 6, cả nước xuất siêu gần 10 tỷ USD

    Đến nửa đầu tháng 6, cả nước xuất siêu gần 10 tỷ USD

    Cán cân thương mại hàng hóa trong 15 ngày đầu tháng 6 xuất siêu 130 triệu USD, đưa con số xuất siêu từ đầu năm đến nửa đầu tháng 6 đạt 9,8 tỷ USD.

    Theo thông tin từ Tổng cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 6/2023, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 27,3 tỷ USD; trong đó xuất khẩu đạt 13,7 tỷ USD và nhập khẩu đạt 13,57 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa trong 15 ngày đầu tháng 6 xuất siêu 130 triệu USD.

    Xuất nhập khẩu hàng hóa đang gặp nhiều khó khăn.

    Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 6 đã đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ đầu năm đến hết ngày 15/6/2023 đạt hơn 287,9 tỷ USD, giảm 15,2% so với cùng kỳ năm 2022; trong đó xuất khẩu đạt 148,87 tỷ USD, giảm 12% và nhập khẩu đạt 139,07 tỷ USD, giảm 18,4%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 9,8 tỷ USD.

    Xuất nhập khẩu hàng hóa đang gặp rất nhiều khó khăn do tình hình lạm phát và nhu cầu suy giảm chung trên thị trường thế giới. Điều này dẫn đến hàng hóa khó khăn trong tìm đầu ra.

    Các nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam từ đầu năm đến hết ngày 15/6/2023 gồm: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 22,9 tỷ USD, giảm 7%, so với cùng kỳ năm 2022; điện thoại các loại và linh kiện đạt 21,9 tỷ USD, giảm 18,9%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt gần 18 tỷ USD, giảm 7,1%; hàng dệt may đạt 14,1%, giảm 15,3%; giày dép đạt 8,9 tỷ USD, giảm 15,4%…

    Ở chiều ngược lại, các nhóm hàng mà Việt Nam nhập khẩu lớn nhất là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 35,2 tỷ USD, giảm 11,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt 17,8 tỷ USD, giảm 13,3%; vải đạt 5,87 tỷ USD, giảm 20%; sắt thép các loại đạt 4,3 tỷ USD, giảm 31,5%…

    Nhằm gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu trong thời gian tới, Bộ Công Thương đang nỗ lực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương cho biết, việc đa dạng hóa thị trường thể hiện qua việc chúng ta đã đàm phán và ký kết các FTA. Hiện nay chúng ta đang có 15 FTA đã ký và đang được thực hiện. Bên cạnh đó, FTA với Israel đã kết thúc đàm phán và dự kiến sẽ ký kết trong thời gian từ nay đến cuối năm.

    Bộ Công Thương cũng đang xem xét triển khai các FTA mới như FTA với UAE. Đây là quốc gia có hoạt động thương mại rất sôi động ở khu vực Trung Đông và hoàn toàn có thể trở thành cửa ngõ để ta đưa hàng hóa vào Trung Đông và châu Phi.

    Ở châu Mỹ, có một tổ chức gọi là Cộng đồng thị trường châu Mỹ (Mercosur) bao gồm 6 quốc gia tại Nam Mỹ. Đây là thị trường tiềm năng và Việt Nam đã có FTA với 1 số quốc gia trong khu vực này như CPTPP với sự tham gia của Chi Lê và Peru. Tuy nhiên Việt Nam chưa có FTA với cả khu vực, đặc biệt với các thị trường lớn như Brazil hay Mexico. Do đó các cơ quan chức năng đang đẩy mạnh đàm phán để ký kết các FTA với khu vực này. Đây là các hướng ưu tiên để ta mở rộng và đa dạng hóa thị trường cho doanh nghiệp.

    Tuy nhiên vẫn còn nhiều khu vực có diện tích và dung lượng thị trường lớn như châu Phi, Nam Á với các quốc gia như Iran, Irắc, Afganistan, Pakistan… Đây là các khu vực thị trường mà chúng ta có thể tiếp tục nghiên cứu và đàm phán ký kết FTA.

    Nguồn: Lan Phương

  • ‘Số hoá’ ngành logistics để đáp ứng yêu cầu mới của thị trường

    ‘Số hoá’ ngành logistics để đáp ứng yêu cầu mới của thị trường

    Do ảnh hưởng của dịch bệnh, các hoạt động logistics vốn được coi là “xương sống” của chuỗi cung ứng cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cho các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số để phát triển bền vững.

    Cảng Cát Lái (Thành phố Hồ Chí Minh) là một trong những cửa ngõ trung chuyển quốc tế. Ảnh: Hồng Đạt – TTXVN.

    Mới có 40% doanh nghiệp logistics sử dụng công nghệ

    Theo bảng xếp hạng của Agility 2022, thị trường logistics Việt Nam được xếp hạng thứ 11 trong nhóm 50 thị trường logistics mới nổi toàn cầu. Tỷ lệ tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) giai đoạn 2022-2027 của thị trường logistics Việt Nam được dự báo đạt mức 5,5%.

    Việt Nam hiện là quốc gia đứng đầu trong các nước ASEAN về số lượng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics được Cơ quan Quản lý hoạt động hàng hải của Mỹ (FMC) cấp phép.

    Tuy nhiên, theo ông Phan Văn Chinh, Cục Trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, ngành logistics cũng còn nhiều hạn chế. Cụ thể, chi phí dịch vụ logistics còn cao; việc đẩy mạnh liên kết giữa các doanh nghiệp logistics với nhau, giữa doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu còn yếu. Đặc biệt, hiện nay chưa hình thành được mạng lưới các doanh nghiệp logistics có quy mô lớn, có năng lực dẫn dắt thị trường, thúc đẩy ngành logistics phát triển…

    Theo ông Chinh, một trong những nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế này là do ứng dụng công nghệ số trong logistics chưa thực sự đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển trong tình hình mới.
    Đồng quan điểm, ông Lê Quang Trung, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, cho rằng hiện nay mới có khoảng 40% doanh nghiệp dịch vụ logistics đang ứng dụng các loại hình công nghệ khác nhau tùy theo quy mô và tính chất dịch vụ.

    Trong đó, chủ yếu là các dịch vụ như khai báo hải quan (100% điện tử), thanh toán thuế (100% hóa đơn điện tử), dịch vụ quản lý khai thác cảng biển, quản lý hành trình xe vận chuyển hàng hóa, quản lý kho bãi,…

    Theo ông Trung, việc chuyển đổi số ngành logistics còn rất nhiều rào cản. Rào cản đó đến từ tư duy nhận thức, tập quán trong giao dịch với các chủ thể cùng với đó là vấn đề về kỹ thuật, công nghệ, việc chuyển đổi, lựa chọn công nghệ phù hợp với từng ngành hàng trong điều kiện hiện tại là điều không dễ.

    Đặc biệt, không ít doanh nghiệp gặp khó khăn về nhân sự, tài chính và hiện nay hành lang chính sách cho chuyển đổi số vẫn chưa đồng bộ, hệ thống dữ liệu chưa thống nhất, hạ tầng chưa hoàn thiện.

    “Số hoá” để thích nghi bối cảnh thị trường mới

    Theo các chuyên gia, logistics là một trong những ngành then chốt, được ví như “mạch máu” của nền kinh tế quốc dân đòi hỏi cần được đầu tư mạnh mẽ, đặc biệt trong khía cạnh “số hóa” để có thể đáp ứng, thích nghi với bối cảnh thị trường, hỗ trợ tối đa thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề khác. Nếu chuyển đổi số thành công thì có thể rút ngắn thời gian chờ tại cảng lên tới 70%.

    Ông Trương Tấn Lộc, Giám đốc Marketing, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn cho biết, thời gian qua, công ty đã triển khai đồng loạt cảng điện tử ePort, lệnh giao hàng và hệ thống kho hàng điện tử cùng với ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào chăm sóc khách hàng.

    Chỉ riêng việc ứng dụng cảng điện tử đã cho phép khách hàng khai báo trực tuyến thông tin container, thông tin hàng hóa, khai báo tờ khai, thanh toán, cho đến khai báo lệnh giao hàng điện tử… Hay như việc phát triển thêm tính năng check-in online, áp dụng tại cảng Cát Lái, giúp giảm thời gian chờ của phương tiện trước cổng cảng, tiến đến phát triển cảng tự động. Kết quả, thời gian xe chờ tại cổng cảng giảm từ 13 phút xuống còn 6 phút; thời gian thông quan hải quan điện tử giảm 2 phút/container.

    “Chúng tôi cũng tiết kiệm khoảng 30.000- 50.000 tờ giấy/ngày in ấn chứng từ, giảm 3.000-5.000 lượt xe/ngày di chuyển từ trung tâm thành phố và khu vực văn phòng hãng tàu đến cảng. Sản lượng giao nhận từ 11.000 lượt xe/ngày lên 19.000-20.000 lượt xe/ ngày”, ông Trương Tấn Lộc nói.

    Từ thực tế hoạt động, ông Trương Tấn Lộc cho rằng, các doanh nghiệp trong ngành cần xây dựng hệ thống dữ liệu chung, kết nối với các cảng trong khu vực và trên thế giới, góp phần tăng hiệu suất khai thác, sức cạnh tranh của Việt Nam với các cụm cảng lân cận như Singapore hay Thái Lan.

    Ông Lộc cũng kiến nghị Nhà nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, đẩy nhanh tiến độ các dự án kết nối hạ tầng giao thông, kết nối đa phương thức giao thông; tăng cường đầu tư vào hạ tầng hậu cần và kho bãi, hệ sinh thái logistics, tháo gỡ các “nút thắt” về giao thông để việc kết nối, vận chuyển hàng hóa được thuận lợi.

    Còn ông Nguyễn Triều Quang, Giám đốc Khối vận hành miền Bắc, Lazada Việt Nam nhận định, doanh nghiệp logistics cũng cần xây dựng hệ sinh thái bền vững và toàn diện để nắm lấy cơ hội của thương mại điện tử, đồng thời nâng cao trải nghiệm giao nhận hàng hóa từ mọi điểm chạm; ứng dụng công nghệ và chuẩn hóa quy trình để tối ưu hiệu suất vận hành, phát triển logistics xanh bền vững

    Tuy nhiên, bà Cao Cẩm Linh, chuyên gia chuyển đổi số, Công ty cổ phần Tư vấn và dịch vụ Viettel cho rằng, vấn đề quan trọng là doanh nghiệp nên biết khi nào cần chuyển đổi số và chuyển đổi số như thế nào. Theo bà Linh, doanh nghiệp hạ tầng và doanh nghiệp vận hành giao nhận khối lượng hàng hóa lớn bắt buộc phải ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số sâu. Bởi có khối lượng hàng hóa lớn đồng nghĩa doanh nghiệp có dữ liệu lớn để thu thập và phân tích, qua đó xử lý luồng hàng bảo đảm chính xác và nhanh nhất, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giảm chi phí cho doanh nghiệp.

    “Doanh nghiệp nhỏ chưa có nhiều khách hàng, quan hệ, hãy xử lý giao nhận hàng hóa bằng nhân lực, chưa cần lãng phí đầu tư máy móc, công nghệ”, bà Linh nhấn mạnh.

    Trong khi đó, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu cho rằng, chuyển đổi số là việc của từng cá nhân, từng cơ quan, từng đơn vị. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi số cần có sự đồng hành, phối hợp, hỗ trợ, liên kết của tất cả các đơn vị liên quan. Điều này sẽ tạo ra sự lan tỏa, sự thúc đẩy giúp các doanh nghiệp chuyển đổi số thành công.

    Nguồn: Thu Trang/Báo Tin tức

  • Hướng đến cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, theo chuẩn mực quốc tế

    Hướng đến cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, theo chuẩn mực quốc tế

    Để đón những vận hội mới từ quá trình hội nhập sâu rộng, các doanh nghiệp (DN) logistics cần khẩn trương xây dựng giải pháp, chiến lược trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao năng lực nội tại, hướng đến cung cấp dịch vụ logistics mang tính chuyên nghiệp, theo các chuẩn mực quốc tế.

    Quy mô nhỏ, cạnh tranh yếu

    Quá trình mở cửa hội nhập sâu rộng, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu và thương mại điện tử cao, vị trí địa lý thuận lợi, nhiều tiềm năng kết hợp với sự quan tâm của Chính phủ đã và sẽ tạo tiền đề thúc đẩy ngành dịch vụ logistics cũng như DN trong lĩnh vực này phát triển mạnh mẽ. Cùng với đó, hệ thống khung pháp lý và cơ chế, chính sách liên quan đến dịch vụ logistics ngày càng được hoàn thiện, nhiều điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính của các bộ, ngành đã được lược bỏ, đơn giản hóa và ứng dụng công nghệ thông tin để tạo thuận lợi cho DN.

    Hệ thống bến bãi vận tải, giao nhận hàng hóa được nâng cấp, mở rộng

    Kết cấu hạ tầng giao thông cũng có những bước phát triển mạnh, theo hướng hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, hệ thống bến bãi vận tải, giao nhận hàng hóa phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu đã được nâng cấp, mở rộng. Các tuyến đường cao tốc, sân bay, bến cảng và trung tâm logistics được xây dựng mới, mở rộng đã góp phần nâng cao năng lực xử lý, thúc đẩy lưu thông hàng hóa nhanh chóng và thuận tiện.

    Tính chung trong lĩnh vực vận tải, kho bãi, bưu chính, chuyển phát, thị trường logistics Việt Nam đang thu hút khoảng trên 30.000 DN. Trong đó, chủ yếu là DN vận tải đường sắt, đường bộ và đường ống (59,02%); DN kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải (33,26%), còn lại là DN vận tải đường thủy (5,27%), vận tải hàng không (0,02%) và DN bưu chính chuyển phát (2,34%).

    Đáng chú ý, có khoảng 30 DN cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam, với các thương hiệu lớn như DHL, FedEx, Maersk Logistics, APL Logistics, CJ Logistics, Kuehne + Nagel…

    Ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) – cho biết, hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu cũng như sản xuất, lưu thông hàng hóa ở trong nước rất mạnh, là cơ hội tốt cho DN logistics. Tuy nhiên, đa số DN logistics là DN nhỏ và vừa. Điểm yếu của DN hiện nay, bên cạnh những vấn đề truyền thống như vốn, còn là kinh nghiệm, kỹ năng quản trị. Chính vì vậy, các DN logistics Việt Nam còn thua thiệt trong cạnh tranh cũng như chưa có điều kiện vươn ra thị trường quốc tế để cọ xát. Bên cạnh đó, DN cung cấp các công đoạn khác nhau của chuỗi logistics như dịch vụ kho, vận tải… chưa có sự liên kết mang tính xâu chuỗi, đây cũng là điểm yếu của DN Việt Nam so với DN nước ngoài.

     

    Do quy mô hạn chế khiến các DN logistics Việt Nam mới chỉ tham gia làm dịch vụ cung ứng đơn lẻ trong lãnh thổ Việt Nam như giao nhận, đóng gói, cho thuê kho bãi, hải quan… Trong khi đó, các dịch vụ tích hợp, mang tính liên vận quốc tế đều do các DN logistics nước ngoài cung cấp. Tiến sĩ Mai Xuân Thiệu – Chủ tịch Hiệp hội Phát triển nhân lực logistics Việt Nam – cho rằng, báo cáo logistics Việt Nam trong những năm qua cho thấy, tốc độ tăng trưởng ngành logistics đạt 14 – 16%, song chi phí logistics còn cao, tương đương 15 – 19% GDP cho thấy, việc nâng cao năng lực của DN và cắt giảm chi phí logistics là vấn đề sống còn để cải thiện năng lực cạnh tranh kinh tế và từng DN.

    Cần sự nỗ lực lớn

    Theo các chuyên gia, để nâng cao năng lực cạnh tranh, DN dịch vụ logistics cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa phương thức quản lý và vận hành, sử dụng hệ thống phần mềm, nền tảng tối ưu hóa logistics nhằm cắt giảm chi phí logistics, nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ. Đồng thời, khẩn trương xây dựng giải pháp, chiến lược trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao năng lực nội tại của DN, khả năng chống chịu, thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thị trường. Tăng cường quảng bá, khuyến khích và hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phục vụ phát triển dịch vụ logistics.

    Về vấn đề này, ông Đỗ Xuân Minh – Giám đốc Trung tâm Dịch vụ (Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn) – cho hay, để có được những DN logistics mạnh, ngoài việc chú trọng vào việc cung cấp vụ logistics với chất lượng và tiêu chuẩn cao nhất, DN cần nỗ lực trong việc xây dựng hệ thống có thể thích ứng linh hoạt với những biến động thị trường. Đặc biệt, cần đề cao quá trình chuyển đổi số trong quản lý logistics thông qua những ứng dụng cảng điện tử, giám sát tự động ứng dụng công nghệ điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo vào các hoạt động hỗ trợ và chăm sóc khách hàng; đồng thời, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

    Theo ông Trần Đức Nghĩa – Giám đốc Công ty TNHH Quốc tế Delta, cần tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn cho DN logistics để họ đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô hoạt động. Theo đó, chúng tôi mong muốn, Ngân hàng Nhà nước quan tâm đến việc thiết kế các chương trình ưu đãi lãi suất hỗ trợ DN. Tại những quốc gia phát triển, hệ số đòn bẩy tài chính (tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản hình thành từ vốn vay) có thể lên đến 1:6 hoặc 1:7 đối với ngành vận tải đường bộ khi DN logistics đi vay mua hoặc thuê mua tài chính phương tiện vận tải để phát triển dịch vụ. “Tại Việt Nam, tỷ lệ này thường là 1:2, nếu tính cả vốn lưu động và vốn cố định đầu tư vào một tài sản vay mua cụ thể. Đây chính là rào cản rất lớn cho các DN nhỏ và vừa có thể phát triển nhanh” – ông Trần Đức Nghĩa phân tích.

    Nguồn: Quỳnh Nga

     

  • Hải quan TP.HCM ứng phó với giảm thu ngân sách, nuôi dưỡng nguồn thu

    Hải quan TP.HCM ứng phó với giảm thu ngân sách, nuôi dưỡng nguồn thu

    Để đạt chỉ tiêu thu ngân sách được giao cho năm 2023 là 145.800 tỷ đồng, mỗi ngày, hải quan TP.HCM cần thu về 399,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong thực tế, số thu ngân sách trung bình mỗi ngày từ đầu năm 2023 cho đến đầu tháng 6 chỉ đạt khoảng 349,4 tỷ đồng/ngày (tương đương xấp xỉ 87,5%).

    Tính từ đầu năm đến hết ngày 6/6/2023, ngành hải quan TP.HCM thu ngân sách chỉ đạt 37,6% chỉ tiêu pháp lệnh (chỉ tiêu giao 145.800 tỷ đồng năm 2023).

    Báo cáo mới đây của Cục Hải quan TP.HCM, cho biết thu ngân sách của Hải quan TP.HCM trong nửa đầu năm 2023 giảm mạnh so với cùng kỳ 2022, chủ yếu do kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ lực nói riêng qua các cửa khẩu TP.HCM giảm sâu.

    Cụ thể, tính từ ngày 1/1/2023 đến hết ngày 6/6/2023, số thu ngân sách luỹ kế đạt 54.857,8 tỷ đồng, đạt 37,6% chỉ tiêu pháp lệnh (chỉ tiêu pháp lệnh 145.800 tỷ đồng), giảm 6,84% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.030,3 tỷ đồng. Trước tình hình này, ngành hải quan Thành phố đã triển khai nhiều biện pháp chống thất thu, nuôi dưỡng nguồn thu.

    Theo số liệu từ báo cáo, chỉ tính riêng trong tháng 4/2023, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giảm 10,74% so với tháng 3/2023 (giảm trị tuyệt đối 0,35 tỷ USD).

    Trong tỷ lệ giảm thu, các mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong số thu ngân sách có mức giảm sâu như: ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu 5.501 chiếc, kim ngạch có thuế 135,9 triệu USD, giảm 24,1% về lượng và giảm 19,5% về trị giá; số thuế phải thu 2.622,7 tỷ đồng, giảm 14,46% (giảm tuyệt đối 443,5 tỷ đồng); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu với kim ngạch có thuế 346,7 triệu USD, giảm 13,4% về trị giá; số thuế phải thu 951,7 tỷ đồng, giảm 12,63% (giảm tuyệt đối 137,5 tỷ đồng) so với tháng 3/2023…

    Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa làm thủ tục thông quan tại các cảng TP.HCM tính từ ngày 01/01 đến hết ngày 10/5/2023 đạt 39,17 tỷ USD, giảm 22,3%, tương đương trị tuyệt đối giảm 11,24 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2022. Bao gồm: Kim ngạch nhập khẩu đạt 21,14 tỷ USD, giảm 24,72%, tương đương giảm tuyệt đối 6,94 tỷ USD; và kim ngạch xuất khẩu đạt 18,03 tỷ USD, giảm 19,25%, tương đương giảm tuyệt đối 4,30 tỷ USD, so cùng kỳ năm 2022.

    Cục Hải quan TP.HCM cho biết từ đây đến cuối năm còn hơn hai quý, yêu cầu đặt ra là làm thế nào để có thể bảo đảm nguồn thu theo chỉ tiêu pháp lệnh, vì theo nhận định chung từ nay đến hết năm 2023 tình hình thế giới diễn biến phức tạp và khó lường, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất nhập khẩu nói chung, xuất nhập khẩu của Việt Nam nói riêng?

    Trước tình hình cùng đòi hỏi cấp bách này, Cục Hải quan TP.HCM đã triển khai nhiều giải pháp khắc phục, trong đó tiếp tục triển khai quyết liệt các biện pháp để nuôi dưỡng nguồn thu, tăng thu ngân sách.

    Tin từ Phòng Thuế xuất nhập khẩu, Cục Hải quan TP.HCM cho biết hiện ngành hải quan đang tiếp tục triển khai các giải pháp tạo thuận lợi thương mại; tổ chức các buổi đối thoại chuyên đề nhằm gỡ vướng, hướng dẫn chính sách mới cho doanh nghiệp.

    Trước diễn biến số thu ngân sách có nhiều biến động do tác động từ nguồn thu, ngành hải quan cũng thường xuyên đánh giá tình hình kim ngạch xuất nhập khẩu và các khoản thu ngân sách hàng tháng, từng quý; đồng thời dự kiến số thu trong tháng, quý tiếp theo, qua đó xây dựng dự toán và có giải pháp phù hợp tập trung cho nguồn thu ngân sách.

    Hải quan TP.HCM sẽ tập trung rà soát, phân loại, thu hồi và xử lý nợ thuế phát sinh theo 4 nhóm…

    Về thu hồi, xử lý nợ, Hải quan TP.HCM sẽ tập trung rà soát, phân loại, thu hồi và xử lý nợ thuế phát sinh theo 4 nhóm, gồm nhóm nợ khó thu; nhóm nợ được khoanh; nhóm nợ chờ xử lý và nhóm nợ có khả năng thu, từ đó đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp đối với từng nhóm.

    Bên cạnh đó, cơ quan này sẽ kết hợp tăng cường công tác xử lý nợ thuế, rà soát, thực hiện phân loại các nhóm nợ có khả năng thu, nợ không có khả năng thu, tổ chức thu hồi và xử lý nợ thuế; tăng cường triển khai công tác khoanh, xóa nợ theo quy định.

    Tính từ đầu năm đến nay, nhờ áp dụng hiệu quả nhiều biện pháp cưỡng chế, cũng như xử lý nợ thuế, Cục Hải quan TP.HCM đã xử lý được khoảng 517 tỷ đồng nợ thuế.

    Đối với việc hoàn thuế và chống gian lận hoàn thuế, Hải quan TP.HCM tiến hành kiểm soát chặt chẽ công tác hoàn thuế, thực hiện các giải pháp chống gian lận trong công tác hoàn thuế; đồng thời phối hợp cơ quan thuế nội địa cùng các lực lượng khác, đấu tranh ngăn chận tình trạng gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng, bảo đảm việc hoàn thuế đúng đối tượng, đúng chính sách quy định…

    Báo cáo mới nhất từ Cục Thống kê TP.HCM về tình hình kinh tế – xã hội TP.HCM trong 5 tháng đầu năm 2023 cho thấy, tổng thu ngân sách của Thành phố trong khoảng thời gian này đạt khoảng 201.786 tỷ đồng, đạt 43,0% so với dự toán và giảm 4,5% so với cùng kỳ năm 2022. Trong số đó, thu nội địa đạt khoảng 137.128 tỷ đồng, đạt 44,6% so với dự toán, chiếm 68,0% tổng thu ngân sách và giảm 3,4% so với cùng kỳ; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt khoảng 54.590 tỷ đồng, đạt 37,4% so với dự toán, chiếm 27,1% tổng thu ngân sách và giảm 6,2%.

    Nguồn: Anh Khuê

  • Xuất khẩu phục hồi tích cực, nhiều mặt hàng chủ lực tăng trưởng cao

    Xuất khẩu phục hồi tích cực, nhiều mặt hàng chủ lực tăng trưởng cao

    Trong quý 2, tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 43,4% so với quý 1. Trong đó, nhiều ngành hàng chủ lực đã đạt mức tăng trưởng cao, bao gồm máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác, hàng dệt may, điện thoại và linh kiện…

    Xuất nhập khẩu

    Trong kỳ 2 tháng 5/2023 xuất khẩu mang về thêm gần 5 tỷ USD.

    Theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất từ Tổng Cục Hải quan, tổng giá trị nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong quý 2 tháng 5/2023 (từ ngày 16/5 đến ngày 31/5/2023) đạt 29,81 tỷ USD, tăng 24,7% (tương đương với sự tăng 5,91 tỷ USD) so với kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 5/2023.

    Kết quả đạt được trong nửa cuối tháng 5/2023 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước trong 5 tháng/2023 đạt 260,79 tỷ USD, giảm 15,3% (tương ứng giảm 47,17 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022.

    Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 180,59 tỷ USD, giảm 15,1% (tương ứng giảm 32,03 tỷ USD); trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp trong nước là 80,2 tỷ USD, giảm 15,9% (tương ứng giảm 15,1 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

    Trong kỳ 2 tháng 5/2023, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 3,05 tỷ USD. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 9,65 tỷ USD.

    Cụ thể, về xuất khẩu, trong kỳ 2 tháng 5/2023 đạt 16,43 tỷ USD, tăng 43,4% (tương ứng tăng 4,98 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 1 tháng 5/2023.

    Trị giá xuất khẩu kỳ 2 tháng 5/2023 biến động tăng so với kỳ 1 tháng 5/2023 ở một số nhóm hàng sau: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 714 triệu USD (tương ứng tăng 38,1%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác tăng 632 triệu USD (tương ứng tăng 48,4%); hàng dệt may tăng 547 triệu USD (tương ứng tăng 46,7%); điện thoại các loại và linh kiện tăng 530 triệu USD (tương ứng tăng 44,3%)…

    Đặc biệt xuất khẩu hàng rau quả trong kỳ 2 tháng 5 đạt 422 triệu USD, gấp 1,8 lần so với kỳ 1 của tháng, chủ yếu do tăng xuất khẩu sầu riêng.

    Xuất khẩu

    Trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng lớn kỳ 2 tháng 5 năm 2023
    so với kỳ 1 tháng 5 năm 2023. Nguồn: Tổng cục Hải quan.

    Như vậy, tính chung 5 tháng đầu năm 2023, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 135,22 tỷ USD, giảm 12,3%, tương ứng giảm 18,88 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2022.

    Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ 2 tháng 5/2023 đạt 11,63 tỷ USD, tăng 43,7% tương ứng tăng 3,54 tỷ USD so với kỳ 1 của tháng, qua đó nâng tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa trong 5 tháng đầu năm 2023 của nhóm các doanh nghiệp này lên 98,9 tỷ USD, giảm 12,2% (tương ứng giảm 13,78 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 73,1% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.

    Từ chiều ngược lại, trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 5/2023 đạt 13,38 tỷ USD, tăng 7,5% (tương ứng tăng 936 triệu USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa đầu tháng 5/2023.

    Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 2 tháng 5/2023 tăng so với kỳ 1 trước đó chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác tăng 137 triệu USD (tương ứng tăng 8%); dầu thô tăng 106 triệu USD (tương ứng tăng 30,4%); khí đốt hóa lỏng tăng 75 triệu USD (tương ứng tăng 502,6%)…

    Nhập khẩu

    Trị giá nhập khẩu của một số nhóm hàng lớn kỳ 2 tháng 5 năm 2023
    so với kỳ 1 tháng 5 năm 2023. Nguồn: Tổng cục Hải quan.

    Trong 5 tháng đầu năm 2023, tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam đạt 125,57 tỷ USD, giảm 18,4% (tương đương giảm 28,29 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022.

    Trong kỳ này, giá trị nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI đạt 8,46 tỷ USD, tăng 3,5% (tương đương tăng 285 triệu USD) so với quý 1 tháng 5/2023. Tính từ đầu năm đến tháng 5/2023, tổng giá trị nhập khẩu của nhóm doanh nghiệp FDI đạt 81,68 tỷ USD, giảm 18,3% (tương đương giảm 18,2 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 65% tổng giá trị nhập khẩu của cả nước.

    Nguồn: Huyền Vy

  • Huy động nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, giảm chi phí logistics

    Huy động nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, giảm chi phí logistics

    Sáng 8/6, Quốc hội khóa XV họp phiên toàn thể tại hội trường tiếp tục chất vấn nhóm vấn đề thứ tư thuộc lĩnh vực giao thông vận tải. Đồng thời, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái sẽ làm rõ các vấn đề liên quan và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội.

    Đại biểu Nguyễn Lân Hiếu (Bình Định) đặt câu hỏi.

    Đại biểu Nguyễn Lân Hiếu (Bình Định) đặt câu hỏi.

    Dùng quyền tranh luận, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu (Đoàn ĐBQH tỉnh Bình Định) cho biết, chi phí logistics rất cao, trung bình 16,8-17% trên giá trị hàng hóa, thậm chí có mặt hàng doanh nghiệp phải trả đến 20-25%. Theo đại biểu Nguyễn Lân Hiếu, muốn giảm gánh nặng này cần giải quyết từng khâu, những vấn đề dù rất nhỏ nhưng nếu lưu tâm có thể tìm ra cách tốt hơn giảm chi phí, nâng cao hiệu quả.

    Đại biểu lấy ví dụ ở sân bay Tân Sơn Nhất, sau khi sửa chữa thì số lần cất cánh, hạ cánh ít hơn trước khi sửa. Trước khi sửa trung bình một giờ có thể có 44-46 lần cất hạ cánh, hiện nay giảm chỉ còn 40-42 lần.

    “Chúng ta bỏ ra mấy nghìn tỷ để nâng cấp đường băng mà số lượng cất, hạ cánh lại giảm đi. Đấy là một sự điều tiết không đúng”, ông Hiếu đề nghị Bộ trưởng lưu ý hơn trong việc giảm chi phí logistics cho Việt Nam.

    Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thắng. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thắng.

    Trả lời về nội dung này, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thắng cho biết, theo thông lệ quốc tế, chi phí logistics đều được so sánh với GDP.

    Năm 2022 ở mức 16,8% GDP – cao so với bình quân chung trên thế giới. Trong khi đó, tỷ lệ này đã tiệm cận chỉ tiêu tối thiểu mà Chính phủ đề ra tại Chiến lược phát triển logistics của Việt Nam đến năm 2025 là 16-20%.

    Việt Nam đang xếp ở vị trí thứ 43 trong tổng số 139 nước tham gia xếp hạng và trong ASEAN, Việt Nam đứng thứ tư. “Đây là kết quả ban đầu để tiếp tục phấn đấu và thực tế dư địa để giảm chi phí logistics còn rất nhiều”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng nói và cho biết Bộ sẽ tiếp tục cố gắng, phối hợp các bộ ngành tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đồng bộ như các cảng cạn, trung tâm logistics.

    Người đứng đầu Bộ Giao thông vận tải cũng thông tin, trong thời gian tới, Bộ Giao thông vận tải tiếp tục nỗ lực và phối hợp chặt chẽ với Bộ Công thương và các bộ, ngành liên quan tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đồng bộ; đầu tư phát triển các cảng cạn, trung tâm logistic để đẩy mạnh các phương vận tải đa phương thức.

    Đặc biệt, lần đầu tiên Việt Nam đã ban hành 4 quy hoạch; chỉ còn quy hoạch về cảng hàng không Bộ Giao thông vận tải đã trình lấy ý kiến hoàn tất thủ tục và đã trình lên Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, có 5 quy hoạch, Bộ Giao thông vận tải sẽ phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương tính toán phương án kết nối đầu tư giữa các vùng.

    Ngoài ra, Bộ sẽ tiếp tục rà soát, nghiên cứu đề xuất các chính sách liên quan đến giá, phí vận tải như giảm phí sử dụng đường bộ, phí sử dụng hạ tầng cảng biển, lệ phí ra vào cảng biển, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, giảm thủ tục, tạo thuận lợi cho các chủ hàng.

    Đồng thời, Bộ sẽ chủ động phối hợp với các địa phương thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho các địa phương trong hoạt động đầu tư khai thác hạ tầng tránh dàn trải và gây cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến lãng phí xã hội.

    Nguồn: Thu Trang/Báo Tin tức

  • Phòng ngừa rủi ro khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tăng cao

    Phòng ngừa rủi ro khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tăng cao

    Mặc dù thị trường Trung Quốc mang đến nhiều cơ hội cho nông sản Việt Nam, nhưng cũng đi kèm với nhiều rủi ro mới liên quan đến việc kiểm soát chất lượng và lo ngại về ùn ứ tại cửa khẩu trong mùa cao điểm. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, Trung Quốc đã mở rộng diện tích trồng vải thiều, thanh long, chanh leo… gây đe dọa sức tiêu thụ nông sản Việt Nam trên thị trường này. Nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam vẫn chưa thỏa thuận được nghị định thư kiểm dịch thực vật với Trung Quốc, dẫn đến tỷ lệ kiểm soát gần 100% các lô hàng và ảnh hưởng đến hiệu suất xuất khẩu.

    Bà Nguyễn Thị Ánh, Giám đốc Công ty cổ phần Sông Tiền – tỉnh Tiền Giang, cho biết rằng trong những năm trước đó, việc xuất khẩu một số container thủy sản hàng tháng thông qua đường tiểu ngạch vào Trung Quốc khá thuận lợi. Tuy nhiên, kể từ khi dịch bùng phát, việc xuất hàng theo phương thức này trở nên rất khó khăn và không đảm bảo. Điều này còn chưa kể đến việc Trung Quốc đã siết chặt việc nhập khẩu qua tiểu ngạch, làm cho việc vận chuyển hàng hóa trở nên khó khăn hơn và phải thông qua một đối tác trung gian, từ đó gặp phải nhiều rủi ro liên quan đến thanh toán và khó thu tiền từ bên thứ ba.

    Để đối phó với tình trạng hiện tại, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam đã đưa ra khuyến nghị cấp bách rằng các cơ quan chức năng cần tăng cường đàm phán và ký kết Nghị định thư để mở cửa chính ngạch cho nhiều loại trái cây Việt Nam sang Trung Quốc. Đặc biệt, đối với mặt hàng sầu riêng, cần ngăn chặn tình trạng gian lận trong việc sử dụng mã số vùng trồng, bởi điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thương hiệu sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Ngoài ra, Việt Nam cần đầu tư và phát triển hệ thống kho bảo quản gần cửa khẩu, nhằm đảm bảo chất lượng của trái cây xuất khẩu. Bằng cách này, sản phẩm có thể được bảo quản tốt hơn, giữ nguyên chất lượng và đáp ứng được các yêu cầu chất lượng khi nhập khẩu vào thị trường Trung Quốc. Đây là những biện pháp quan trọng giúp Việt Nam vượt qua các rủi ro và tăng cường hiệu suất xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc.

    phòng ngừa rủi ro xuất khẩu 2

    Ảnh minh hoạ – Ảnh: Reuters.

    Đối với các doanh nghiệp, rất quan trọng là phải liên tục cập nhật thông tin, nghiên cứu các dự báo và chính sách để có các phương án xử lý và giải pháp phù hợp, từ đó hạn chế tối đa rủi ro trong quá trình xuất khẩu. Các cơ quan chức năng và cơ quan thương vụ tại nước ngoài cũng cần cung cấp thông tin kịp thời cho doanh nghiệp về nhu cầu thị trường và chính sách nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục siết chặt quản lý và kiểm soát các loại dịch bệnh, các hiệp hội ngành hàng cần tích cực nắm bắt thông tin và diễn biến kịp thời, cảnh báo cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu về việc tuân thủ an toàn vệ sinh thực phẩm.

    Doanh nghiệp cần chủ động hợp tác với các đối tác nhập khẩu để xây dựng và quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp cũng như các sản phẩm chủ lực. Đồng thời, họ cần nắm vững và đáp ứng tốt các yêu cầu về kiểm dịch và chất lượng của thị trường Trung Quốc.

    Để tận dụng thị trường rộng lớn và đông dân của Trung Quốc, các doanh nghiệp cần tạo dựng và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm xuất khẩu của mình. Tuy Trung Quốc đang tăng cường sản xuất và trồng trọt các sản phẩm tương đương với những ưu thế của Việt Nam, nhưng việc hợp tác trực tiếp với các thương nhân Trung Quốc và kết hợp chặt chẽ với các đối tác nhập khẩu là vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp và các sản phẩm chủ lực.

    Bên cạnh việc đáp ứng tốt các yêu cầu về kiểm dịch và chất lượng của thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác và thiết lập mối quan hệ tốt với các đối tác nhập khẩu. Điều này giúp xây dựng một hình ảnh đáng tin cậy và tăng cường quảng bá cho sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp trong thị trường Trung Quốc.

    phòng ngừa rủi ro xuất khẩu 3

    Một cảng hàng hóa của Trung Quốc.

    Theo ông Lương Văn Tài, Đại diện Thương vụ Việt Nam tại Bắc Kinh, trong tháng 4/2023, Quốc vụ Viện Trung Quốc đã ban hành một ý kiến quan trọng về thúc đẩy ổn định quy mô và cơ cấu ngoại thương. Trong ý kiến này, việc sửa đổi “Biện pháp quản lý thương mại cặp chợ biên giới” đã được chú ý, nhằm tạo môi trường và chính sách đa dạng hóa thương mại cặp chợ biên giới, cũng như tăng cường nhập khẩu từ các nước lân cận.

    Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã ban hành quy định về đăng ký doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nước ngoài thông qua Lệnh 248. Điều này yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài phải hoàn thiện hồ sơ gia hạn trên Hệ thống thương mại một cửa (CIFER).

    Trong tình hình Trung Quốc tiếp tục thắt chặt quản lý và kiểm soát các đợt dịch (như dịch cúm gia cầm, dịch tả lợn châu Phi, dịch đậu mùa khỉ…) và Việt Nam cũng ghi nhận các trường hợp nhiễm dịch đậu mùa khỉ, các hiệp hội cần nắm bắt thông tin và diễn biến của dịch trên thế giới, cũng như nguy cơ lây lan trong nước để cảnh báo kịp thời cho các doanh nghiệp sản xuất. Điều này giúp họ áp dụng các biện pháp phòng tránh lây nhiễm và tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm.

    Các hiệp hội cần tích cực cập nhật thông tin về dịch bệnh từ các nguồn đáng tin cậy và chia sẻ nhanh chóng với doanh nghiệp sản xuất. Đồng thời, họ cần tư vấn và hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa, như việc tuân thủ các quy định về vệ sinh và kiểm soát dịch trong quá trình sản xuất. Việc đẩy mạnh công tác vệ sinh an toàn thực phẩm cũng đảm bảo rằng sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn, từ đó tăng cường lòng tin của thị trường và người tiêu dùng.

    Các doanh nghiệp ngành rau quả có thể nghiên cứu khả năng đầu tư hoặc hợp tác đầu tư với các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực chế biến rau quả. Điều này giúp nâng cao giá trị xuất khẩu của sản phẩm và đáp ứng xu thế thị trường trái cây và rau quả chế biến ngày càng tăng trong những năm gần đây.

    Ông Nguyễn Văn Tài lưu ý rằng đối với doanh nghiệp thủy sản, cần chủ động trong việc đăng ký gia hạn xuất khẩu trên hệ thống CIFER và tránh đăng ký gia hạn gần thời điểm hết hạn để đảm bảo tiến độ xuất khẩu suôn sẻ. Các doanh nghiệp xuất khẩu trái cây cần thực hiện quản lý vùng trồng một cách tốt, đặc biệt là kiểm soát sinh vật gây hại trên sản phẩm. Điều này đảm bảo chất lượng và an toàn của sản phẩm, từ đó tăng cường sự tin tưởng của thị trường và người tiêu dùng.

     

  • Tổng thống Mỹ tính điều động vệ binh quốc gia để xử lý tắc nghẽn chuỗi cung

    Tổng thống Mỹ tính điều động vệ binh quốc gia để xử lý tắc nghẽn chuỗi cung

    Tổng thống Mỹ Joe Biden cho biết ông sẽ xem xét điều động vệ binh quốc gia để xử lý tắc nghẽn chuỗi cung nếu những thách thức hậu cần (logistics) vẫn kéo dài.

    “Câu trả lời là có, nếu chúng ta không thể có bước tiến, như về tăng cường số lượng xe tải”, ông Biden phát biểu trên kênh truyền hình CNN ngày 21/10 khi được hỏi về khả năng chính quyền điều động, triển khai vệ binh quốc gia để giúp giải tỏa ách tắc về chuỗi cung.

    Chuỗi cung ứng tại Mỹ đang phải vật lộn với gia tăng lượng hàng hóa nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng cũng như việc các doanh nghiệp nâng mức dự trữ hàng hóa lên ngang với thời điểm trước đại dịch COVID-19.

    Hàng trăm nghìn container hàng hóa đang bị tắc tại cảng Los Angeles và Long Beach – cửa ngõ chuyên chở chủ chốt ở bờ Tây chiếm hơn 25% lượng hàng nhập khẩu cập cảng tại Mỹ. Thời gian chờ đợi để dỡ hàng khỏi tàu lên đến 3 tuần. Thiếu hụt lái xe tải và nhân viên nhà kho cũng tạo ra thêm nhiều thách thức.

    Điều cần làm nhất hiện nay là giải phóng hàng trên tàu đang kẹt ở các cảng biển – ông Biden nhấn mạnh. Tuy nhiên, ông chủ Nhà Trắng không đề cập thời gian, kế hoạch chi tiết sử dụng vệ binh quốc gia nếu ông quyết định làm vậy. Trước đó, phe Cộng hòa chỉ trích ông Biden vì tình trạng kẹt cứng chuỗi cung, nói rằng chính quyền hành động không đủ để xử lý tình huống này.

    Hoài Thanh/Báo Tin tức (Theo WSJ)

     

  • Doanh nghiệp logistics nỗ lực khôi phục hoạt động sau giãn cách

    Doanh nghiệp logistics nỗ lực khôi phục hoạt động sau giãn cách

    Covid-19 tác động mạnh mẽ lên chuỗi cung ứng toàn cầu lẫn trong nước, buộc các doanh nghiệp logistics triển khai sớm những giải pháp phục hồi hậu suy thoái.

    Không riêng Việt Nam mà ngành logistics toàn cầu đều chịu ảnh hưởng nặng nề từ Covid-19. Theo khảo sát ghi nhận bởi Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), chỉ tính riêng làn sóng dịch thứ tư vừa qua, doanh thu các doanh nghiệp trong ngành hầu hết ghi nhận sụt giảm trung bình 10-30% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó có khoảng 15% doanh nghiệp giảm 50% doanh thu so với năm 2019; hơn 50% giảm số lượng dịch vụ logistics trong nước và quốc tế 10-30% so với cùng kỳ năm ngoái.

    Nhiều nhà máy phải tạm ngưng hoạt động do các lệnh giãn cách, phong tỏa thời dịch. Lượng hàng hóa cần lưu chuyển ít đi, dẫn đến việc vận chuyển và giao nhận giảm theo. Chưa kể hoạt động chuyển phát nhanh trong nước do đại dịch bị trì hoãn, hàng hóa dồn ứ tại các trung tâm xử lý. Nhiều tuyến đường giao nhận bị gián đoạn do phong tỏa kéo dài, thời gian giao hàng khó đảm bảo.

    Trước tình hình này, nhiều doanh nghiệp logistics buộc phải sớm đưa ra giải pháp khắc phục các trở ngại trên, sớm đưa hoạt động giao nhận hàng hóa, chuyển phát nhanh nội địa lẫn quốc tế quay về mức tăng trưởng trước dịch. Các đơn vị vận chuyển hầu hết đều tập trung đẩy nhanh tiến độ tiêm vaccine cho nhân viên giao hàng để sớm quay trở lại làm việc trong giai đoạn bình thường mới. Ngoài ra, họ cũng buộc phải tuân thủ đầy đủ quy định của cơ quan chức năng để đảm bảo an toàn cho cả shipper lẫn khách hàng khi hoạt động trở lại.

    Là một trong những doanh nghiệp gặp không ít trở ngại thời dịch và đang trên đà phục hồi hậu suy thoái, BEST Express ngay lập tức thích ứng với tình hình mới và nỗ lực khôi phục hoạt động nhanh chóng để nối lại các tuyến hàng. Doanh nghiệp định hướng phục vụ khách hàng theo tinh thần nhanh chóng, chú trọng chất lượng dịch vụ nhưng phải đảm bảo an toàn và xem đây là ưu tiên hàng đầu.

    Trung tâm phân loại của BEST Express tại Việt Nam.

    Trung tâm phân loại của BEST Express tại Việt Nam.

    Theo đó, đội ngũ shipper BEST Express đã sớm được triển khai tiêm vaccine hai mũi đủ 14 ngày và luôn tuân thủ 5K khi giao hàng; luôn đeo khẩu trang; giữ khoảng cách 2 m và xịt khuẩn cho gói hàng trước khi giao. Toàn bộ shipper lẫn đội ngũ nhân viên văn phòng, trung tâm phân loại đều được test nhanh mỗi ngày để tránh có ca lây nhiễm trong nội bộ công ty. Chỉ những nhân viên có kết quả xét nghiệm âm tính mới được phân tuyến giao hàng phù hợp.

    Nhân viên BEST Express luôn đeo khẩu trang, khử khuẩn kỹ càng, tiêm đủ hai mũi vaccine phòng Covid-19 và xét nghiệm định kỳ âm tính trước khi tiếp xúc với khách hàng.

    Nhân viên BEST Express luôn đeo khẩu trang, khử khuẩn kỹ càng, tiêm đủ hai mũi vaccine phòng Covid-19 và xét nghiệm định kỳ âm tính trước khi tiếp xúc với khách hàng.

    “Dù dịch bệnh vẫn diễn biến khá phức tạp trên cả nước song BEST Express vẫn quyết tâm hoạt động hết công suất, cố gắng vận chuyển nhanh nhất đến tay khách hàng. Bên cạnh đó, bản thân mỗi shipper luôn tự giác tuân thủ 5K, khử khuẩn đúng quy định để đảm bảo an toàn cho cả khách hàng lẫn bản thân”, một nhân viên giao hàng của BEST Express hoạt động thời dịch chia sẻ.

    Đại diện BEST Express cho biết đơn vị có niềm tin mạnh mẽ rằng dịch bệnh sẽ được kiểm soát tốt, thành phố sẽ sớm khoẻ lại để hoạt động chuyển phát nhanh được diễn ra nhanh chóng, khách hàng hài lòng, nhịp sống bình thường trở lại.

    Thy An

    Ảnh: BEST Express

  • Chuỗi cung ứng vẫn gặp tình trạng đứt gẫy

    Chuỗi cung ứng vẫn gặp tình trạng đứt gẫy

    Chuỗi cung ứng đang đóng vai trò trung tâm của nền kinh tế nhưng tình trạng đứt gãy vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn.

    Trong 2 năm qua, gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu khiến công suất giảm mạnh và giá cước tăng cao, đặc biệt đối với vận chuyển container. Đại dịch Covid-19 luôn là nguyên nhân chính dẫn đến vấn đề này nhưng không có giải pháp thực sự để khắc phục.

    Tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng vẫn chưa được khắc phục đến hiện tại. Ảnh: Logistics Manager.

    Tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng vẫn chưa được khắc phục đến hiện tại. Ảnh: Logistics Manager.

    Nhiều câu hỏi được đặt ra xung quanh sự gián đoạn này: Mất bao lâu để chuỗi cung ứng toàn cầu giải quyết được vấn đề trên? Điều đó sẽ diễn ra thế nào, kéo theo những gì?… Thực tế, những câu hỏi này rất khó trả lời nhưng ít nhất cũng khiến chúng ta suy ngẫm về vấn đề đó.

    Hiện, ngành công nghiệp logistics trải qua quãng thời gian khủng hoảng chưa từng có. Các nhà cung cấp dịch vụ khó nắm bắt được tình hình vận chuyển hàng hóa, thiếu khả năng cung ứng và không có cái nhìn sâu sắc về dự báo, tầm nhìn quản lý và hoạt động logistics.

    Mùa mua sắm và nghỉ lễ cuối năm đang đến gần, nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ logistics hay khách hàng đều lo lắng về vấn đề vận chuyển. Tuy nhiên, chúng ta không nên chờ đợi, hãy nhanh chóng mua sắm để hàng hóa có thể về tay sớm nhất.

    Tình hình hiện tại vẫn tồn đọng nhiều khó khăn nhưng một số chuyên gia trong lĩnh vực logistics dự đoán vấn đề tắc nghẽn sẽ được khắc phục vào đầu năm 2022.

    Trước đó, tờ Global Trade cũng dự báo năm 2022 là một năm tươi sang đối với ngành logistics. Sự bùng nổ của thương mại điện tử đã ảnh hưởng tích cực đến ngành logistics. Với tình hình dịch bệnh đang dần giảm bớt và thế giới trở về quỹ đạo phát triển, ngành công nghiệp này được dự báo sẽ đạt 12.975,64 tỷ USD vào năm 2027.

    Nhiều xu hướng đột phá sẽ xuất hiện trong năm tới như kho siêu nhỏ và logistics chặng cuối, nhu cầu với dịch vụ 3PL và 4PL tăng cao, logistics xanh và ứng dụng thành tựu công nghệ mạnh mẽ hơn.

    Thanh Thư (theo Logistics Manager)

  • Dịch COVID-19 đã làm chi phí hàng hóa tăng cao do đứt gãy chuỗi logistics

    Dịch COVID-19 đã làm chi phí hàng hóa tăng cao do đứt gãy chuỗi logistics

    Trong 2 năm qua, do ảnh hưởng dịch COVID-19 khiến chuỗi logistics trong và ngoài nước liên tục bị đứt gãy. Điều này đã khiến việc giao thương hàng hóa không chỉ nội địa mà cả xuất khẩu cũng bị ảnh hưởng, chi phí hàng hóa tăng cao bất hợp lý.

    Cung ứng hàng hóa bị ảnh hưởng nghiêm trọng

    Mới đây, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã có khảo sát về những biến động xấu của kinh tế trong những tháng qua, đặc biệt là do diễn biến phức tạp dịch bệnh COVID-19 mang lại.

    Chú thích ảnh
    Do ảnh hưởng dịch COVID-19, việc vận chuyển hàng hóa trong và ngoài nước gặp khó khăn do liên tục bị đứt gãy chuỗi logistics.

    Nhóm nghiên cứu nhận định, kể từ khi bùng phát dịch COVID-19 lần thứ tư, nhiều tỉnh, thành trong cả nước, đặc biệt là 2 thành phố lớn nhất buộc phải giãn cách, khiến đầu tàu kinh tế cả nước có nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng. Không chỉ thế, những vấn đề đứt gãy nguồn lao động do giãn cách, nguồn nguyên vật liệu khi phí tăng cao và tình trạng ngăn cấm di chuyển giữa các khu vực, các địa phương cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Đáng lo lắng hơn, đã có 85.500 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 24,2% so với 2020, riêng Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 28,1% và số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 43.200 doanh nghiệp.

    Bàn về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Thành Thực, Chủ tịch Công ty Bagico Bắc Giang cho biết, việc liên tục bị đứt gãy hàng hóa do dịch COVID-19 đã khiến cho doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng đều bị thiệt hại do chi phí và giá bị “đội” lên cao một cách bất hợp lý. Ví dụ, giá 1 kg rau ở Bình Phước chỉ có 8.000 đồng, nhưng vì thiếu chuỗi cung ứng Logistics, dẫn tới giá rau khi lên TP Hồ Chí Minh tăng đến 70.000 – 80.000 đồng/kg.

    “Do không thể vận chuyển được, nhiều mặt hàng buộc phải bỏ không, nhất là mặt hàng nông sản, gây thiệt hại nặng nề cho người nông dân. Điển hình như mùa vụ sầu riêng tại Tây Nguyên vừa qua, toàn bộ lao động kỹ thuật đều “bị kẹt” ở miền Tây, không thể di chuyển lên Tây Nguyên để thu hoạch và vận chuyển. Trong khi đó, nhiều nơi đã đặt cọc mua hàng đều bất lực vì sầu riêng đã chín mà thiếu người thu hoạch và vận chuyển. Bản thân chúng tôi cũng bị ép giá và nhà cung ứng sẵn sàng bỏ cọc. Đây là sự lãng phí vô cùng lớn”, bà Nguyễn Thị Thành Thực chia sẻ.

    Đối với thị trường quốc tế, việc đứt gãy chuỗi cung ứng cảng biển đã tác động nặng nề hơn đến mặt hàng nông sản Việt Nam. Đặc biệt, tình trạng thiếu container lạnh cho hàng nông sản hiện nay là một vấn đề rất lớn, dẫn đến chi phí vận chuyển xuất, nhập khẩu rất cao. Bà Nguyễn Thị Thành Thực cho rằng, điều này sẽ tác động đến cao điểm phục vụ cho hàng Tết trong khoảng 2 đến 3 tháng nữa. Đến thời điểm này, việc kết nối logistics giữa các nước trong khu vực vẫn còn khó khăn và đứt gãy. Trước vấn đề này, nhiều doanh nghiệp nông sản và doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực sự lúng túng và không dám nhận hàng vận chuyển.

    Chia sẻ về những yêu cầu của thị trường Mỹ đối với chuỗi cung ứng Việt Nam với một số mặt hàng như nông sản, dệt may, ông Bùi Huy Sơn, Tham tán công sứ phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cho biết, logistics và chuỗi cung ứng ở Việt Nam cũng như bất kỳ nước nào trên thế giới đều phải đáp ứng “nhanh – nhiều – tốt – rẻ”. Điều này đồng nghĩa, phía Mỹ yêu cầu logistics ở các thị trường phải đảm bảo chất lượng khi hàng đến, giá cả phải cạnh tranh.

    Có thể nói, Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới với hơn 2.000 tỷ USD/năm. Do vậy, lượng hàng đi lại, giao dịch, quy mô của hệ thống, hạ tầng tiếp nhận hàng hóa nhiều năm qua rất là mới. Tuy nhiên, do ảnh hưởng dịch bệnh COVID-19 nặng nề, đặc biệt năm 2020 nước Mỹ chịu thiệt hại nhất, kèm theo đó là khủng hoảng logistics lan tỏa đến các nước khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường biển. Theo đó, việc xuất khẩu hàng hóa, chủ yếu là nông sản và thủy sản với yêu cầu rất cao về tính thời gian, thời điểm, thời vụ nhằm đảm bảo chất lượng hàng hóa tươi, ngon… của doanh nghiệp Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề.

    Tháo gỡ chuỗi cung ứng trong “bình thường mới”

    Để tạo điều kiện và tháo gỡ cho chuỗi cung ứng sản xuất, vận chuyển, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, ngành liên quan tạo thuận lợi cho doanh nghiệp để khôi phục sản xuất kinh doanh, đảm bảo lưu thông hàng hóa…

    Nội dung được nêu trong Chỉ thị của Thủ tướng về việc phục hồi sản xuất tại các khu vực sản xuất công nghiệp trong bối cảnh phòng, chống dịch bệnh COVID-19 do Phó Thủ tướng Lê Văn Thành vừa ký ban hành ngày 3/10 cũng đã nêu rõ: Đến nay, dịch bệnh dù đã từng bước được kiểm soát, nhưng theo phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp, hiệp hội, các khu công nghiệp, nhiều chuỗi sản xuất cung ứng hàng hóa bị đứt gãy, phải hủy nhiều đơn hàng sản xuất trong nước, thiếu hụt lực lượng lao động phục vụ sản xuất.

    Do đó, để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp với nguyên tắc “sản xuất phải an toàn, an toàn mới sản xuất”, Thủ tướng yêu cầu các doanh nghiệp với vai trò là chủ thể trong quá trình phục hồi sản xuất kinh doanh, phối hợp chặt chẽ với UBND các tỉnh, thành phố để thống nhất phương án sản xuất, lưu thông hàng hóa, đi lại và ăn ở của người lao động; phương án phải đảm bảo an toàn tuyệt đối phòng, chống dịch trong tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp.

    Các tỉnh, thành phố với trách nhiệm là cơ quan quản lý trực tiếp doanh nghiệp, khẩn trương thành lập ban chỉ đạo phục hồi sản xuất, phân công nhiệm vụ cụ thể để triển khai kế hoạch, thông qua phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo vừa duy trì sản xuất vừa an toàn phòng, chống dịch; đồng thời hướng dẫn tháo gỡ khó khăn kịp thời về thủ tục đầu tư, phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế; tháo gỡ vướng mắc và tạo thuận lợi cho chuyên gia, người lao động nước ngoài được nhập cảnh, thực hiện cách ly theo quy định của Bộ Y tế; hướng dẫn các chính sách miễn giảm thuế, ban hành cơ chế hỗ trợ lãi suất, tín dụng…

    Trước đó, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cũng đã gửi kiến nghị đến Chính phủ khuyến nghị về chính sách tháo gỡ chuỗi cung ứng logistics không bị đứt gãy. Cụ thể, ngoài thực hiện yêu cầu lái xe phải tiêm đủ 2 mũi vaccine, có giấy xét nghiệm âm tính theo quy định thì mỗi địa phương cũng nên tổ chức ngay vùng đệm là các trung tâm logistics để hạ tải và luân chuyển hàng hóa cho nhu cầu của doanh nghiệp và cư dân địa phương; tổ chức các đội tuần tra trên các trục quốc lộ, tỉnh lộ; đảm bảo không cho hạ tải hoặc luân chuyển hàng hóa ngoài khu vực quy định. Tại các trạm tiếp liệu xăng dầu, phải có khu xét nghiệm nhanh, cách ly lái xe khi tiếp liệu, quy định rõ các điểm dừng nghỉ, kể cả cung đường đi và về.

    Ngoài ra, nên xây dựng ứng dụng điện tử (App) “Nguồn lao động an toàn mùa dịch” nhằm thông tin tuyển dụng và việc làm tạm thời tại các khu công nghiệp, các tỉnh, thành giúp cho các lao động “vùng xanh” có việc làm ngay, doanh nghiệp đủ điều kiện sản xuất dễ tiếp cận nguồn lao động an toàn.

    Về lâu dài, nhóm nghiên cứu cho rằng, phải có tư duy logistics ngay trong khâu hoạch định, thực thi chiến lược phòng, chống dịch COVID-19 nhằm bảo đảm đầy đủ, đồng bộ và kịp thời các yếu tố vật chất và con người cho phòng, chống dịch COVID-19. Chiến lược phòng, chống dịch COVID-19 phải đi kèm chiến lược hậu cần – logistics một cách thống nhất.

    Theo đó, Chính phủ và các Bộ, ngành cũng cần hoàn thiện thể chế, pháp luật logistics nhằm tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các hoạt động logistics trên thị trường trong mọi tình huống; bổ sung và hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp logistics thông qua xây dựng và thực thi cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp này với tất cả các loại hình vận tải.

    Đặc biệt, đổi mới toàn diện hệ thống dự trữ quốc gia để nâng cao hơn nữa vai trò, sứ mệnh, công cụ dự trữ quốc gia trong hệ thống logistics trước những biến động khó lường. Hơn nữa, phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng logistics (bao gồm các khu công nghiệp logistics, trung tâm logistics, cụm logistics…) đồng bộ, hiện đại, tiến tới xây dựng thị trường bất động sản logistics Việt Nam.

    Với khối chính quyền địa phương, phải nhất quán với sự chỉ đạo của Chính phủ và các bộ, ngành trung ương; bãi bỏ các quy định chống dịch thực hiện thiếu thống nhất tại các địa phương đang gây ra rào cản cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ trong quá trình cung ứng hàng hóa; có chính sách kịp thời và mau lẹ để huy động mọi nguồn lực tại chỗ, từ nguồn nhân lực, vật lực, tài chính kịp thời thay thế các chuỗi cung ứng dài bằng chuỗi cung ứng ngắn tại các địa phương có dịch.

    Các hiệp hội, nhóm nghiên cứu đề nghị, cần hỗ trợ thông tin từ các đầu mối tiêu thụ: mua buôn, mua lẻ, gom hàng, giá cả thị trường, tiềm năng tiêu thụ… Hỗ trợ thông tin từ các nguồn cung cấp an toàn: bán buôn, bán lẻ, bán online, giá cả, cách thức phòng chống lây nhiễm; kết nối với các bên cung cấp dịch vụ hoặc hiệp hội nước khác để hỗ trợ trong việc thực hiện các hợp đồng cung ứng với chi phí hợp lý, nhất là vận chuyển container, thủ tục giao nhận, đặc biệt đối với hàng hóa lưu thông, xuất nhập khẩu và hàng hóa chuyên dùng cho phòng chống dịch COVID-19 nhanh nhất, kịp thời nhất.